Mô tả công ty:
CÔNG NGHỆ TƯỚI TỰ ĐỘNG Việt Nam là một nước thuộc vùng nhiệt đới có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đến nay cả nước có hơn 60% dân số sống bằng nghề nông và dựa vào nông thôn, một trong những vấn đề quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp là Nhu cầu về Nước tưới.
Theo đánh giá của Liên hiệp quốc, trong thế kỷ 20 dân số thế giới tăng lên 3 lần trong khi tài nguyên nước được khai thác tăng lên 7 lần. Với tốc độ tăng dân số như hiện nay, dân số thế giới được dự báo là 8 tỷ người năm 2020 và 10 tỷ vào năm 2050. Như vậy, nhu cầu về nước sẽ tăng 650% trong vòng 30 năm tới. Đến năm 2025 sẽ có trên 3,5 tỷ người trên hành tinh sống trong điều kiện khan hiếm nước.
Nước ta có tài nguyên nước ở mức trung bình của thế giới, lượng nước phát sinh trên lãnh thổ bình quân đầu người khoảng 4100 m3/năm vào năm 2000. Với tốc độ tăng dân số hiện nay, lượng nước bình quân đầu người tiếp tục giảm 18-20% sau mỗi thập kỷ.
1. Đặc điểm khí hậu và thủy lợi ở VN
Ở Việt Nam lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian. mùa mưa chiếm 75-85% lượng mưa cả năm, trong khi mùa khô lương mưa rất nhỏ, nhiều tháng không mưa. Về mặt không gian, có những vùng lượng mưa đạt 3000-5000mm/năm, trong khi có vùng dưới 1000mm/năm, chênh lệch là 3 đến 5 lần.
Do mưa phân bố không đều nên dòng chảy mặt cũng không đều, những vùng mưa lớn có modul dòng chảy 60-80 lít/s/km2 trong khi những vùng mưa nhỏ chỉ đạt 10 lít/s/km2. Trong mùa mưa lượng dòng chảy chiếm 70-80% lượng dòng chảy năm, trong khi tháng có lượng dòng chảy nhỏ nhất chỉ chiếm 1-2%.
Tài nguyên nước dưới đất với trữ lượng động thiên nhiên trên toàn lãnh thổ (chưa kể phần hải đảo) khoảng 50-60 tỷ m3 tương đương 1513 m3/s nhưng cũng phân bố không đều trên các vùng địa chất thuỷ văn.
Với những đặc điểm về tài nguyên nước, tình trạng hạn hán, thiếu nước vào mùa khô năm nào cũng xẩy ra với mức độ khác nhau, và mùa mưa tình trạng úng lụt cũng thường xuyên xuất hiện. Trong vòng 5 năm gần đây, năm nào Việt Nam cũng phải đương đầu với thiên tai liên quan đến nước. Năm 1997, 1998 do ảnh hưởng của Enninô hạn hán nghiêm trọng trên nhiều vùng, đặc biệt là miền Trung và Tây nguyên; năm 1999 hai trận lụt đầu tháng 11 và đầu tháng 12 ở miền Trung được đánh giá là trận lụt lịch sử; năm 2000 - 2001 lụt ở đồng bằng sông Mê Kông, trong đó trận lụt năm 2000 được đánh giá là lớn nhất trong 70 năm qua cả về đỉnh, lượng và thời gian lũ; đầu năm 2002 hạn hán lại xẩy ra trên diện rộng ở Nam Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gây thiệt hại lớn cho nông lâm nghiệp, thuỷ sản. Cháy rừng tràm ở Kiên Giang và Cà Mau cũng có nguyên nhân cơ bản do hạn hán.
2. Hiện trạng thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp ở VN
Sau nhiều năm đầu tư, đến nay cả nước đã có 75 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn, rất nhiều hệ thống thuỷ lợi nhỏ với tổng giá trị tài sản cố định khoảng 60.000 tỷ đồng (chưa kể giá trị đất và công sức nhân dân đóng góp). Các hệ thống thuỷ lợi năm 2000 đã đảm bảo tưới cho 3 triệu ha đất canh tác, tiêu 1.4 triệu ha đất tự nhiên ở các tỉnh Bắc bộ, ngăn mặn 70 vạn ha, cải tạo 1.6 triệu ha đất chua phèn ở đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2000, diện tích lúa được tưới cả năm gần 7 triệu ha chiếm 84% diện tích lúa. Các công trình thuỷ lợi còn tưới trên 1 triệu ha rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả. Lượng nước sử dụng cho nông nghiệp rất lớn. theo tính toán năm 1985 đã sử dụng 41 tỷ m3 chiếm 89,8% tổng lượng nước tiêu thụ, năm 1990 sử dụng 46,9 tỷ m3 chiếm 90% và năm 2000 khoảng trên 60 tỷ m3. Tuy nhiên công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông-lâm-ngư-diêm nghiệp và kinh tế nông thôn đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới. Đó là việc đảm bảo nước để ổn định khoảng 4 triệu ha đất có điều kiện sản xuất lúa, giữ vững an ninh lương thực với sản lượng lương thực có hạt khoảng 40 triệu tấn vào năm 2010; đồng thời cần có các giải pháp thuỷ lợi hiệu quả phục vụ cho 3 triệu ha cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm, khoảng 1,2 triệu ha cây công nghiệp hằng năm, cung cấp nước cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề nông thôn, cung cấp nước sạch cho cư dân nông thôn; bên cạnh đó là việc xây dựng các hệ thống cung cấp nước để làm muối chất lượng cao và nuôi trồng thuỷ, hải sản với qui mô lớn; xử lý nước thải từ các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, từ các làng nghề, từ các cơ sở sản xuất công nghiệp dịch vụ ở nông thôn.
Từ đó nhiệm vụ cung cấp nước cho sản xuất và đời sống là vô cùng nặng nề, để giải quyết nhu cầu này, cần có những biện pháp kinh tế kỹ thuật mới tạo ra sự đột phá trong công tác thủy lợi.
3. Cây trồng ở Việt Nam và ảnh hưởng của Nước đến năng suất, chất lượng
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, môi trường thuận lợi cho cây xanh phát triển. Có thể chia cây trồng ra các nhóm chính: Cây công nghiệp, cây lương thực, cây rừng cây rau - hoa, cây ăn quả, cây bóng mát cảnh quan, cây lâm nghiệp.: - Cây công nghiệp có các loại lâu năm như cao su, cà phê, chè, dừa ... cây ngắn ngày như đay, cói, lạc, đậu tương, bông, thuốc lá, mía, dâu tằm, cây thuốc ... - Cây lương thực là loại cây quan trọng, trong năm 2009 diện tích cây lương thực cả nước là: Lúa 7440,1 nghìn hecta, ngô 1086,8 nghìn hecta, khoai lang 146,4 nghìn hecta, sắn 508,8 nghìn hecta.
- Cây lâm nghiệp, ngoài diện tích rừng tự nhiên khoảng 10,5 triệu héc ta đang bị thu hẹp dần, đến cuối năm 2008 tổng diện tích rừng trồng toàn quốc 2.770.182 ha. Thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, trong năm 2010 cả nước phải trồng mới gần 386.000 ha.
- Rau, hoa và cây ăn quả là loại cây được trồng ở mọi miền đất nước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân. Năm 2008 diện tích rau của cả nước là 722 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 159 tạ/ha với sản lượng hơn 11,4 triệu tấn; - Cây bóng mát và cảnh quan đô thị là loại cây phân tán được trồng ở cá khu dân cư từ nông thôn đến thành thị, như vườn nhà, chung cư, vườn hoa, công trình kiến trúc, dọc đường giao thông...
Các loại cây trồng đều có nhu cầu Nước, nước ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm trồng trọt.
Để cây sinh trưởng và phát triển cây cần các yếu tố: Nước, phân, ánh sáng… ngoài ánh sáng có sẵn trong tự nhiên, thì NƯỚC không thể thiếu với cây trồng;
Trong tự nhiên cây hấp thụ nước từ mưa, sương, nuớc ngầm…, lượng nước của thiên nhiên đó không ổn định, khi thừa khi thiếu; để cây xanh sinh trưởng và phát triển tốt, con người cần chủ động trong việc cung cấp nước cho cây.
Chi phí cung cấp nuớc cho cây chiếm tỷ lệ lớn trong giá thành trồng trọt, sau chi phí cho công trình thủy lợi là chi phí công sức cho việc tưới. Công nghệ tưới cổ truyền tốn nhiều công sức, thất thoát nước lớn, nhưng nhiều khi không đáp ứng lượng nuớc thích hợp với nhu cầu của cây trồng.
Ở Việt Nam ta hiện nay, ngoài các loại rau và hoa, tình trạng cây trồng thiếu nước thường xẩy ra với các loại cây trồng cạn: Cây lương thực như ngô, khoai, sắn; cây công nghiệp như mía, chè…, cây ăn quả lâu năm… vẫn được trồng với tập quán dựa chủ yếu vào nguồn nước mưa và nước có sẵn trong đất, chỉ tưới nước khi khô hạn kéo dài.
Với các loại hoa, rau và cây ăn quả ngắn ngày, việc tưới nước nhiều khi chưa đáp ứng nhu cầu của cây và thường chỉ lưu ý độ ẩm của đất mà chưa tạo được các yếu tố độ ẩm và nhiệt độ cho môi trường sống của cây.
Sự thiếu nước hoặc cung cấp nước không phù hợp yêu cầu dẫn đến nhiều tác hại cho cây trồng:
- Giảm năng suất;
- Giảm chất lượng sản phẩm;
- Phát triển các loại sâu bệnh.
4. Công nghệ tưới Tiết kiệm
Phương pháp tưới truyền thống có những nhược điểm:
- Công trình dẫn nước (đập thủy lợi, kênh đào, mương máng …) có chi phí đầu tư lớn, chiếm diện tích rộng, tỷ lệ nước thất thoát cao (mất mát do vỡ nứt đường dẫn, thấm vào đất, bốc hơi vào môi trường …);
- Công nghệ tưới (múc dội, phun bằng ống dẫn mềm …) có thất thoát lớn (do tưới vào những diện tích không cần thiết, do chẩy lan, bốc hơi) khó điều chỉnh chính xác khối lượng nước, tốn công sức lao động,
Phương pháp tưới tiên tiến được áp dụng rộng rãi ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ … là phương pháp tưới tiết kiệm, được tự động hoặc bán tự động bới các thiết bị tưới hiện đại. Đứng đầu thế giới về công nghệ tưới tiết kiệm có thể nói đến Công nghệ tưới của hãng Netafim, Israel.
Tưới Tiết kiệm mà khởi đầu là Tưới phun mưa tiết kiệm là biện pháp kỹ thuật được dùng từ lâu trong tưới rau xanh, cây ăn quả, đồng cỏ, cây công nghiệp và ngày được áp dụng rộng rãi trong canh tác quy mô lớn, nhất là ở các nước có nền công nghiệp phát triển. Ở Pháp tưới phun mưa với quy mô công nghiệp được dùng từ những năm 1950 ở các điền trang diện tích tới 15.000ha và phát triển với nhịp độ nhanh. Tại nhiều nước châu Âu (Ý, Thụy Sĩ, Áo), tưới phun mưa được sử dụng từ lâu, phát triển mạnh và chiểm tỷ lệ cao so với các biện pháp tưới khác. Tưới phun mưa được mệnh danh là “ phương pháp tưới của tương lai “ , đã phát triển rộng rãi, nhanh chóng với quy mô rất lớn ở Mỹ (đạt 85% diện tích canh tác).
Ở Việt Nam, các biện pháp Tưới tiết kiệm đã được áp dụng rộng rãi trong nông lâm nghiệp và các công trình xây dựng tại khu vực Nam bộ và Nam Trung bộ; thói quen trồng cây ăn quả, cây công nghiệp …theo phương pháp cổ truyền không tưới nước đã dần dần bị loại bỏ, thực tế cho thấy các vườn bưởi, Thanh Long, mía… được tưới nước thường xuyên bằng phương pháp tưới tiết kiệm cho năng suất gấp hai lần trước đây, mang lại lợi nhuận cao cho người trồng.
Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước đặc trưng bởi sự cung cấp một khối lượng nước hạn chế được kiểm soát để tưới cho một bộ phận tầng đất canh tác – vùng hoạt động hữu hiệu của bộ rễ cây – nhằm sử dụng tối ưu lượng nước tưới. Nước được dẫn tới đầu tưới nhờ một hệ thống ống dẫn mà tại đó nước không bị hao tổn dọc đường, việc tưới được thông qua các loại đầu tưới chỉ đưa nước tới những vị trí cần thiết cho đất và cây trồng.
Các đầu tưới là thành phần đặc trưng nhất của hệ thống tưới; căn cứ vào đặc tính của đầu tưới mà phân chia ra 4 loại: Tưới phun mưa, tưới phun sương, và tưới thấm nhỏ giọt.
> Tưới phun mưa:
Là phương pháp đưa nước tới cây trồng và mặt đất dưới dạng mưa nhờ các vòi phun.
Trong tưới phun mưa nước rơi tự do giống như mưa tự nhiên rất có ích đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nên phương pháp này ngày càng được hoàn thiện, hiện đại hóa và có triển vọng phát triển rất lớn.
Để tạo ra giọt mưa, có thể sử dụng các loại:
- Đầu phun kiểu văng, cho bán kính phun nhỏ từ 3m đến 6m;
- Đầu phun kiểu tia quay, cho bán kính vùng tưới ướt lớn từ 10m đến 30m;
- Ngoài ra còn phương pháp tưới phun mưa cục bộ, cung cấp các tia nước có lưu lượng và bán kính phun rất nhỏ, từ đầu phun đặt sát mặt đất gần gốc cây;
> Tưới phun sương …
Để tưới một số lọai cây như cây con, cây hoa… nước phun ra từ vòi cần có kích thước rất nhỏ như giọt sương, áp lực làm việc của các vòi phun sương cần cao hơn so với phun mưa; đầu phun loại này tạo ra hạt có kích thước rất nhỏ, được gọi là vòi phun sương
> Tưới thấm nhỏ giọt:
Là kỹ thuật tưới đưa nước vào đất dưới dạng các giọt nước rỉ ra từ thiết bị tưới đặt sát mặt đất ở vùng rễ cây hoạt động; các lỗ phun trên ống dẫn được chắn bởi những tấm lưới có kết cấu rất tinh vi.
Các ưu điểm của tưới nhỏ giọt là:
- Phân bố độ ẩm đều trong tầng đất canh tác tạo điều kiện thuận lợi về chế độ không khí, nhiệt độ, độ ẩm, chế độ tiêu hóa thức ăn và quang hợp cho cây;
- Tiết kiệm nước đến mức độ tối đa vì nó làm giảm đến mức tối thiểu các tổn thất nước;
- Không gây xói mòn đất, không tạo nên váng đất trên mặt và không phá vỡ cấu tượng đất do việc tưới thực hiện liên tục với mức tưới rất nhỏ;
- Năng xuất lao động cao vì không ngăn cản hoạt động cơ giới hóa mà còn có khả năng cơ khí hóa, tự động hóa một số khâu như phun thuốc trừ sâu, bón phân hóa học kết hợp tưới nước;
- Ít phụ thuộc vào độ dốc địa hình, thành phần và cấu trúc đất tưới, mức nước ngầm ở nông hay sâu, điều kiện nhiệt độ và không bị ảnh hưởng của gió như là tưới phun mưa;
- Cho phép sử dụng với nước và đất bị nhiễm chua, nhiễm mặn ở mức độ thấp, khi đảm bảo thường xuyên các biện pháp rửa trôi bằng mưa thiên nhiên hay bằng rửa nhân tạo;
- Yêu cầu cột nước áp lực làm việc nhỏ, chỉ bằng 10% - 15% so với tưới phun mưa; - Góp phần ngăn chặn phát triển của cỏ dại và sâu bệnh, vì nước tưới chỉ làm ẩm quanh gốc cây. Hệ thống tưới tự động thường bao gồm các thành phần: - Nguồn nước và bể chứa; - Bơm nước và bầu lọc; - Đường ống dẫn và các loại van (van đóng mở, van điều áp, van xả khí ...); - Các đầu phun tưới và giá đỡ; - Bộ trộn phân và thuốc trừ sâu; - Bộ điều khiển tự động hoăc bán tự đọng.
Nhìn chung, ững dụng công nghệ tưới tự động có thể mang lại những lợi ích: - Có khả năng điều chỉnh chính xác các yếu tố độ ẩm, nhiệt độ của đất và môi trường, lượng chất hữu cơ trong đất phù hợp với yêu cầu sinh lý của cây, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trồng trọt; - Giảm thiểu hao tổn nước, từ đó giảm chi phí xây dựng hệ thống thủy lợi và tiết kiệm tài nguyên nước; - Có khả năng cơ giới hóa, tự động hóa quá trình tưới, dẫn đến giảm chi phí nhân lực, thời gian cho việc tưới Công nghệ Tưới Tiết kiệm có thể ứng dụng cho:
- Tưới rau, hoa, cây ăn quả;
- Tưới cây công nghiệp;
- Tưới cây con ươm trồng trong nhà kính;
- Tưới cây xanh công viên, công trình kiến trúc đô thị, sân gôn;
- Tưới cây giải phân cách đường giao thông;
- Tưới khử bụi, khử trùng, làm mát chuồng trại, không gian khu công nghiệp;
Dịch vụ Tưới của công ty Sản Phẩm Việt
Hoạt động của Công ty SẢN PHẨM VIỆT trong lĩnh vực Tưới tiết kiêm bao gồm:
- Tư vấn và thiết kế Hệ thống tưới, nhà kính (nhà lưới, Green house);
- Cung cấp vật tư trang bị tưới tự động (vòi phun, đường ống, bầu lọc, hệ thống điều khiển ...) và nhà kính;
- Lắp đặt hệ thống tưới tự động , nhà kính;
- Hướng dẫn sử dụng.
Công ty Sản Phẩm Việt sử dụng công nghệ và vật tư tiên tiến của Isaen, cung cấp chủ yếu bởi hãng NETAFIM và một số vật tư phụ kiện có xuất xứ là những thương hiệu nổi tiếng
khác. Dịch vụ tư vấn, thiết kế được thực hiện bởi các chuyên gia có nhiều năm làm việc trong lĩnh vực liên quan tại viện KH Lâm nghiệp VN, viện Cơ điện Nông nghiệp ….
Việc lắp đặt được thực hiện bởi đội ngũ thợ lành nghề, được huấn luyện chu đáo;
Xem: Bản đồ chỉ dãn Địa chỉ C.ty Sản Phẩm Việt
|